Hướng dẫn thực hiện qui chế đào tạo theo học chế tín chỉ

06/05/2015 | Số lượt đọc 2735 | Thể loại: Quy chế, quy định

 

[Tải file gốc tại đây]

 


 

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUI CHẾ

Đào tạo trình độ cao đẳng hệ chính qui theo học chế tín chỉ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 53/2010/QĐ-CĐCĐHN-ĐT ngày 15/9/2010 của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội)

Chương I
 NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Hướng dẫn này qui định đào tạo cao đẳng hệ chính qui theo học chế tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo, kiểm tra và thi học phần, xét và công nhận tốt nghiệp.

 2. Hướng dẫn này chỉ áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính qui trong Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội, thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2. Chương trình giáo dục

1. Chương trình giáo dục (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đào tạo, qui định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, theo trình độ đào tạo.

2. Chương trình được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ, kiểu 2 văn bằng).

3. Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

4. Khối lượng kiến thức của  chương trình đào tạo hệ cao đẳng là  từ 100 đến 115 tín chỉ.

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường qui định.

2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số tín chỉ qui định cho mỗi chương trình.         

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên.

Một tín chỉ được qui định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp.

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

Nhà trường có qui định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần.

4. Một tiết học được tính bằng 50 phút.

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 7 giờ đến 20 giờ hằng ngày.

Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường, Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký);

2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần (theo thang điểm 4) mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần;

3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được tích lũy (đạt điểm A, B, C, D theo thang điểm chữ) tính từ đầu khóa học;

4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình theo thang điểm 4 của các học phần đã được tích lũy (đạt điểm A, B, C, D theo thang điểm chữ) tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.

Chương II
 TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

          1. Trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

          a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo.

b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng xem xét quyết định tổ chức thêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt. Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi.

c) Thời gian và kế hoạch đào tạo được công bố cho cán bộ và sinh viên vào đầu năm học.

2. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế cho chương trình qui định tại khoản 1 của điều này, cộng với 4 học kỳ.

Đối với những trường hợp đặc biệt, Hiệu trưởng có thể qui định thêm thời gian tối đa cho mỗi chương trình, nhưng không vượt quá hai lần so với thời gian thiết kế cho chương trình đó.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo qui định tại Qui chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính qui không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Để được nhận vào học, sinh viên phải nộp cho nhà trường đầy đủ những giấy tờ theo qui định trong giấy báo nhập học của Trường. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do Phòng Công tác Học sinh – Sinh viên quản lý.

2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Phòng Công tác Học sinh – Sinh viên trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của trường. tiến hành xếp lớp và cấp cho sinh viên:

a) Thẻ sinh viên;

b) Sổ đăng ký học tập;

c) Phiếu nhận cố vấn học tập.

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học được hoàn thành trong thời hạn theo qui định tại Qui chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính qui hiện hành.

4. Sinh viên nhập học phải được trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, qui chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.

Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo

          Trường xác định điểm trúng tuyển theo ngành đào tạo trong kỳ thi tuyển sinh, những thí sinh trúng tuyển được trường sắp xếp vào học theo ngành đào tạo đã đăng ký.

Điều 9. Tổ chức lớp học

Các sinh viên khi nhập học sẽ được tổ chức thành lớp sinh hoạt và sau đó là lớp học phần.

1. Lớp sinh hoạt được tổ chức theo khóa tuyển sinh của ngành đào tạo. Lớp sinh hoạt duy trì trong cả khóa học, có mã số, có hệ thống cán bộ lớp, cán bộ đoàn, Hội Sinh viên và cố vấn học tập (giáo viên chủ nhiệm) riêng.

2. Lớp học phần được tổ chức theo từng học phần ở từng học kỳ. Mỗi lớp học phần có thời khóa biểu, lịch thi, ... và mã số lớp riêng.

Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Trong học kỳ đầu khi mới nhập học, sinh viên học theo thời khóa biểu do nhà trường sắp xếp cho từng lớp. Trong các học kỳ tiếp theo, sinh viên tự chọn và đăng ký các môn môn học mà trường dự kiến tổ chức thực hiện trong học kỳ, phù hợp với điều kiện cá nhân với sự hướng dẫn của cố vấn học tập (giáo viên chủ nhiệm). Việc đăng ký các môn học được thực hiện trên mạng máy tính.

2. Việc đăng ký học được thực hiện từ 2 tuần trước khi học kỳ bắt đầu, thời điểm bắt đầu đăng ký của từng sinh viên được nhà trường công bố trên mạng máy tính và bảng thông báo. Trong 2 tuần đầu tiên của học kỳ, sinh viên được đăng ký thêm học phần nhưng không được hủy học phần đã đăng ký.

Sau 2 tuần kể từ khi học kỳ bắt đầu, nếu sinh viên chưa đăng ký học thì được xem  như đã tự ý bỏ học học phần đó.

Nếu sinh viên đăng ký không đủ khối lượng tín chỉ tối thiểu qui định ở khoản 3 điều này thì sinh viên sẽ không được tham gia học trong học kỳ đó và phải làm đơn để nhà trường xét nghỉ học tạm thời.

Trường hợp số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu do Trường qui định thì lớp học phần sẽ bị hủy và sinh viên phải đăng ký học lớp khác (có thể cùng hoặc khác học phần với lớp bị hủy) nếu chưa đảm bảo đủ khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ qui định tại khoản 3 điều này.

3. Khối lượng học tập mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được qui định như sau:

- Đăng ký tối thiểu là 14 tín chỉ trừ kỳ học cuối khóa đối với sinh viên được xếp hạng bình thường;

- Đăng ký tối thiểu là 10 tín chỉ trừ kỳ học cuối khóa đối với sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu;

4. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Sau 2 tuần kể từ đầu học kỳ, nhưng không muộn quá 4 tuần, sinh viên có thể vào mạng để rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký (sinh viên vẫn phải nộp học phí học phần đã đăng ký, nhưng được rút tên khỏi danh sách lớp). Ngoài thời hạn trên các học phần đã đăng ký học được giữ nguyên và nếu sinh viên không dự học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:

a) Sinh viên phải tự viết đơn gửi phòng đào tạo của trường;

b) Không vi phạm khoản 2 Điều 10 của hướng dẫn này.

Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt, sau khi giảng viên phụ trách nhận giấy báo của Phòng Đào tạo.

Điều 12. Đăng ký học lại

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị cấm thi (không đủ điều kiện dự thi kết thúc học phần) hoặc bị điểm F sau 2 lần thi phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A,B,C hoặc D.

2. Sinh viên có học phần tự chọn  bị cấm  thi hoặc bị điểm F sau 2 lần thi phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo hoặc đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.

3. Ngoài các trường hợp qui định tại khoản 1 và khoản 2 của điều này, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác đối với các học phần bị điểm D để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.

Điều 13. Nghỉ ốm

Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi trưởng khoa trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế trường, y tế địa phương hoặc của bệnh viện.

Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

a) Sinh viên năm thứ nhất:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy dưới 30 tín chỉ;

b) Sinh viên năm thứ hai:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 30 tín chỉ đến dưới 60 tín chỉ;

c) Sinh viên năm thứ ba:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 60 tín chỉ trở lên;.

            2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ theo Điều 23 hướng dẫn này, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên, gồm:

- Loại xuất sắc:      Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;

          - Loại giỏi:            Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;

- Loại khá:             Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;

- Loại trung bình:  Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.

b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00 nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học (Điều 16 hướng dẫn này).

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và  bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

          a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

         b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế.

c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học qui định tại Điều 16 của hướng dẫn này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức qui định tại khoản 2 Điều 6 của hướng dẫn này.

            2. Do không đăng ký đủ khối lượng học tập tối thiểu trong một học kỳ, trường hợp này sinh viên phải viết đơn xin nghỉ học tạm thời. Thời gian nghỉ học tạm thời này phải được tính vào thời gian học chính thức qui định tại khoản 2 Điều 6 của hướng dẫn này.

          3. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất 2 tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.

Điều 16. Bị buộc thôi học

1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

          a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ liên tiếp;

          b) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai hoặc dưới 1,60 đối với sinh viên cuối khóa.

          c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại trường qui định tại khoản 2 Điều 6 hướng dẫn này; 

d) Bị kỉ luật lần thứ hai vì lí do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo qui định tại khoản 2 Điều 29 của hướng dẫn này hoặc bị kỉ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của trường.

2. Trong thời hạn một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Trường thông báo quyết định đó cho gia đình và địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú.

Trường hợp tại Trường có các chương trình đào tạo ở trình độ thấp hơn hoặc chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng, thì những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học được qui định tại các điểm a, b, c khoản 1 điều này có thể xin xét chuyển sang học các chương trình đó.

Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình

1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất;

c) Sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất.

3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.

4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa qui định cho chương trình thứ nhất, qui định tại khoản 2 Điều 6 của hướng dẫn này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.

5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18. Chuyển trường

          1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:

          a) Trong thời gian học tập, gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;

          b) Trường xin chuyển đến phải có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;

          c) Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến;

d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường qui định tại khoản 2 Điều này.

2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;

b) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;

c) Sinh viên đang trong thời gian bị kỉ luật từ cảnh cáo trở lên;

d) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển qui định của trường xin chuyển đến.

3. Thủ tục chuyển trường:

a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo qui định của nhà trường;

b) Hiệu trưởng trường mà sinh viên xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

Chương III

KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 19. Đánh giá học phần

          1. Đối với các học phần chỉ có lí thuyết hoặc có cả lí thuyết và thực hành: điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào các điểm đánh giá bộ phận sau:

          - Điểm chuyên cần;

          - Điểm kiểm tra bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận;

          - Điểm thi kết thúc học phần có trọng số 60%.

          Việc lựa chọn các hình thức kiểm tra bộ phận và trọng số các điểm kiểm tra bộ phận do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và được qui định trong đề cương chi tiết của học phần. Hiệu trưởng có qui định riêng về việc cho điểm chuyên cần.

          2. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành.

          3. Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần.

Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, trường tổ chức một kỳ thi chính và nếu có điều kiện, tổ chức thêm một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính.

          2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỉ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ. Hiệu trưởng qui định cụ thể thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi.

          3. Sinh viên dự thi kết thúc học phần phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Tổng điểm chuyên cần và kiểm tra bộ phận có tính cả trọng số  4 (theo thang điểm 10);

- Không nghỉ quá 20% số tiết qui định của học phần.

4. Sinh viên có học phần bị điểm F và có điểm thi kết thúc học phần bằng 0 sau lần thi thứ nhất được thi lại 1 lần ở một trong những kỳ thi sau mà nhà trường tổ chức.

5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên này được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có).

6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp không có kỳ thi phụ hoặc thi không đạt trong kỳ thi phụ những sinh viên này sẽ phải dự thi tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ.

Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi

          Hình thức ra đề thi, thi, chấm thi theo qui đinh của nhà trường nhưng phải theo:

1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã qui định trong chương trình. Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo qui định của Hiệu trưởng;

          2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần;

          3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lí thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.

          Hiệu trưởng qui định việc bảo quản các bài thi, qui trình chấm thi và lưu giữ các bài thi sau khi chấm. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.

          4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình Trưởng bộ môn hoặc Trưởng khoa quyết định;

          5. Các điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần phải được ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của nhà trường và làm thành 03 bản. Một bản lưu tại Bộ môn, một bản gửi về văn phòng Khoa và một bản gửi về Phòng Đào tạo, chậm nhất một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần.

Điều 22. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

1. Điểm kiểm tra bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng.

Trọng số các điểm đánh giá bộ phận được qui định như sau:

          - Điểm chuyên cần: 0,1;

          - Điểm kiểm tra bộ phận: 0,3;

          - Điểm thi kết thúc học phần: 0,6.

a1 = 0,1C1 + 0,3Q1 + 0,6 T1

Trong đó:

a1: Điểm học phần;

C1: Điểm chuyên cần;

Q1: Điểm kiểm tra bộ phận;

T1: Điểm thi kết thúc học phần.

 * Với trường hợp học lại

a2 = 0,1C2 + 0,3Q2 + 0,6Max(T2, T1)

Trong đó:

a2: Điểm học phần học lại;

C2: Điểm chuyên cần học lại;

Q2: Điểm kiểm tra bộ phận học lại;

T2: Điểm thi kết thúc học phần học lại.

3. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:

a) Loại đạt:             Giỏi                       :A      (8,5 – 10)               

Khá                        :B+    (8,0 – 8,4)     

                                                                        :B      (7,0 – 7,9) 

                                         Trung bình             :C+    (6,5 – 6,9)  

                                                                        :C      (5,5 – 6,4)  

                                         Trung bình yếu      :D+    (5,0 – 5,4)  

                                                                        :D      (4,0 – 4,9)  

b) Loại không đạt: Kém                       : F      (dưới 4,0)                

c) Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các ký hiệu sau:

                               I         Chưa đủ dữ liệu đánh giá

                               X       Chưa nhận được kết quả thi.

d) Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng ký hiệu R viết kèm với kết quả.

4. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

           a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lí do phải nhận điểm 0;

           b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;

          c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.

5. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 4 điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội qui thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.

          6. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

          a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được trưởng khoa cho phép;

          b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lí do khách quan, được Trưởng khoa chấp thuận.

Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng qui định, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm.Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.

7. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Đào tạo chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ Khoa chuyển lên.

8. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:

          a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt;

          b) Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.

Điều 23. Cách tính điểm trung bình chung

1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần  được qui đổi qua điểm số như sau:

A       tương ứng với        4

B+     tương ứng với        3,5

B        tương ứng với        3,0

C+     tương ứng với        2,5

C        tương ứng với        2,0

D+     tương ứng với        1,5

D       tương ứng với        1,0

F        tương ứng với        0

          2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:         

                                       

       Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

          ai  là điểm của học phần thứ i

          ni  là số tín chỉ của học phần thứ i

          n  là tổng số học phần.

          Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.

 Chương IV
XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 24. Thực tập cuối khóa, làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp

1. Khối lượng kiến thức tích lũy của thực tập cuối khóa là 05 tín chỉ. Nhà trường có qui định riêng về thực tập cuối khóa.

2. Đầu học kỳ cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn được qui định như sau:

a) Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên có điểm trung bình chung tích lũy đạt 3,2 trở lên. Đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính là 5 tín chỉ. Hiệu trưởng qui định khối lượng cụ thể phù hợp với yêu cầu đào tạo của trường;

b) Học và thi một số học phần chuyên môn: sinh viên không được giao làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa tích lũy đủ số tín chỉ qui định cho chương trình;

3. Tùy theo điều kiện của trường và đặc thù của từng ngành đào tạo, Hiệu trưởng qui định:

a) Các điều kiện để sinh viên được đăng ký làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp;

b) Hình thức và thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp;

c) Hình thức chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp;

d) Nhiệm vụ của giảng viên hướng dẫn; trách nhiệm của bộ môn và khoa đối với sinh viên trong thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp;

e) Nội dung học phần chuyên môn gồm hai phần: phần kiến thức cơ sở ngành và phần kiến thức chuyên môn; được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc thuộc chương trình với tổng khối lượng kiến thức tương đương với khối lượng kiến thức của đồ án hoặc khóa luận tốt nghiệp như qui định tại điểm a khoản 1 Điều này.

4. Đối với một số ngành đào tạo đòi hỏi phải dành nhiều thời gian cho thí nghiệm hoặc khảo sát để sinh viên hoàn thành đồ án, khoá luận tốt nghiệp, trường có thể bố trí thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khoá.

Điều 25. Chấm đồ án, khoá luận

          1. Hội đồng bảo vệ đồ án, khoá luận do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các trưởng khoa (bộ môn) chuyên môn, Trưởng phòng Công tác Học sinh - Sinh viên.

2. Hiệu trưởng quyết định danh sách giảng viên chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Việc chấm mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải ít nhất do 2 giảng viên đảm nhiệm.

3. Điểm của đồ án, khoá luận được chấm theo thang điểm chữ theo qui định tại các mục a và b, khoản 3, Điều 22 của hướng dẫn này. Kết quả chấm đồ án, khóa luận được công bố chậm nhất là 3 tuần, kể từ ngày nộp đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học.

4. Sinh viên có đồ án, khoá luận bị điểm F, phải đăng ký làm lại đồ án, khóa luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số tín chỉ của đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

Điều 26. Thực tập cuối khoá và điều kiện xét tốt nghiệp của một số ngành đào tạo đặc thù

Đối với một số ngành đào tạo đặc thù thuộc các lĩnh vực Nghệ thuật, Kiến trúc, Y tế, Thể dục - Thể thao, Hiệu trưởng qui định nội dung, hình thức thực tập cuối khoá; hình thức chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp; điều kiện xét và công nhận tốt nghiệp phù hợp với đặc điểm các chương trình của trường.

Điều 27. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được trường xét và công nhận tốt nghiệp:

a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang trong thời gian bị kỉ luật ở mức đình chỉ học tập;

b) Tích lũy đủ số học phần qui định cho chương trình đào tạo;

c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

d) Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộc ngành đào tạo chính do Hiệu trưởng qui định;

e) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất.

2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp qui định tại khoản 1 điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Trưởng khoa chuyên môn, Trưởng phòng Công tác Học sinh - Sinh viên.

          3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Điều 28. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo           

          1. Bằng tốt nghiệp cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:

          a) Loại xuất sắc:       Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;

          b) Loại giỏi:            Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;

c) Loại khá:             Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;

d) Loại trung bình:   Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.

          2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

          a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại, học lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ qui định cho toàn chương trình;

          b) Đã bị kỉ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.

          3. Kết quả học tập của sinh viên được ghi vào bảng điểm theo từng học phần. Trong bảng điểm phải ghi chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).

          4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những qui định tại khoản 1 Điều 27 của hướng dẫn này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp tương ứng với các ngành đào tạo đó.     

          5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.

          6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo qui định tại Điều 16 và Điều 18 hướng dẫn này.  

Chương V
XỬ LÍ VI PHẠM

Điều 29. Xử lí kỉ luật đối với sinh viên vi phạm các qui định về thi, kiểm tra       1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm các qui định về thi và kiểm tra, sinh viên sẽ bị xử lí kỉ luật với từng học phần đã vi phạm.

          2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỉ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

           3. Trừ trường hợp như qui định tại khoản 2 của điều này, mức độ sai phạm và khung xử lí kỉ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các qui định của Qui chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính qui. 

HIỆU TRƯỞNG

(Đã ký)

TS. Hoàng Ngọc Trí